Khái niệm, định nghĩa Messaging là gì?

Messaging là một khái niệm truyền tin khác rất nhiều so với RPC trong đó nó không cố gắng che giấu đi những khía cạnh vật lý của truyền dữ liệu từ caller đến receiver. Nó che giấu phần nào các chi tiết thực thi, nhưng không đến mức bác bỏ các khái niệm liên quan đến các chi phí run-time trong việc trao đổi dữ liệu.

Messaging là một khái niệm truyền tin có thể được giải thích một cách dễ dàng vì có những điểm tương đồng với hệ thống e-mail. Điều quan trọng nhất của những điểm tương đồng này là một thực tế rằng các message được công nhận là các thực thể first-class, và người dùng nghĩ rằng mỗi message là một cái gì đó hữu hình. Trọng tâm ở đây không phải là để ẩn đi (hiding) những thách thức trong truyền thông, thay vào đó là sẽ đóng gói (encapsulation) và đưa ra một hình thức mà người dùng có thể tương tác được. Trong hệ thống e-mail, một message là một cái gì đó không những được truyền đi, mà nó cũng có thể được sao lưu hoặc in ấn.

Sau đây là một danh sách chưa đầy đủ về các ưu điểm có thể có, tùy thuộc vào việc thực thi, thể hiện các tính chất thường có của một hệ thống messaging:

  • Khả năng quản lý và phản ứng với các chậm trễ (delay) trong truyền tin. Một hệ thống messaging có thể có các thời gian timeout được kiểm soát với mức độ tùy ý – thậm chí ở cấp độ của các message riêng lẻ.
  • Khả năng giám sát tiến độ (và ước lượng thời gian thực tế) của việc truyền dữ liệu vật lý.
  • Các mức độ ưu tiên của message cho phép tầng giao vận (transport layer) phân biệt các message dựa trên tầm quan trọng của chúng.
  • Khả năng lưu trữ các message một cách đáng tin cậy (message persistency) hoặc cho phép tách rời hoàn toàn các sender và receiver trong giới hạn thời gian thực thi của chúng. Nhờ khả năng này receiver không nhất thiết phải lắng nghe hoặc sống khi message truyền tới. Hoặc message có thể được gửi lại nhiều hơn 1 lần.
  • Nội dung message có thể thay đổi – các message có thể có những phần mà không nhất thiết phải tuân theo bất kỳ cấu trúc tĩnh nào đó, điều này cung cấp sự linh hoạt hơn trong việc quản lý sự phát triển của một hệ thống phân tán (bạn hãy đọc bài viết What Is Wrong With IDL để biết thêm chi tiết).
  • Khả năng thích nghi với cả các hệ thống giao vận trực tiếp và gián tiếp, bao gồm cả việc có thể tự động tái tạo lại nội dung. Trong hệ thống e-mail, danh sách mail (bao gồm cả phần archives) là những ví dụ tốt về các hệ thống giao vận gián tiếp mà không cần bất kỳ phần mở rộng nào cho các khái niệm cơ bản của e-mail.
  • Message tagging, meta-information và tracing – ví dụ, hoàn toàn có thể thu được một báo cáo đầy đủ về con đường vận chuyển đã được “ghé thăm” bởi một message cho đến khi message này đến được đích của nó. Nhờ phần meta-information, các message cũng có thể trở thành bộ phận của những cấu trúc truyền thông ở cấp cao hơn. Trong hệ thống e-mail, chúng được gọi là “threads” trong các nhóm thảo luận cho thấy một ứng dụng có thể có của những khái niệm này.
  • Các tính năng liên quan đến bảo mật như chữ ký số của nội dung dữ liệu và các thẻ truy cập (access token) có thể được sử dụng cho mỗi message để kiểm soát chi tiết việc ai có quyền làm những gì trong hệ thống phân tán đó.
  • Nếu như RPC thường là “1 gọi 1” hay “Peer to Peer”, thì messaging lại có nhiều mô hình đa dạng hơn:
    • Một gọi nhiều.
    • Một gọi cho nhóm nhưng chọn đối tượng phản hồi đầu tiên.
    • Tùy vào đặc tính hoặc nội dung thông điệp, quyết định đối tượng nào sẽ được nhận.
    • Phân tải đều đặn kiểu xoay vòng: round robin
    • Phân tải nhưng có nhớ được lần trước thông điệp được gửi đến đối tượng nào, nay gửi đúng đối tượng đó để đảm bảo hai bên có đầy đủ lịch sử trò chuyện.

Danh sách trên cho thấy những bất cập trong cơ chế RPC mở ra cơ hội lớn khi chuyển qua sử dụng cơ chế messaging.

Vẫn có thể sử dụng messaging như một thực thi phân tán của các “cuộc gọi (call)” và trong thực tế thì phương pháp hướng đối tượng sử dụng thuật ngữ “message” để ám chỉ các yêu cầu có thể được gửi giữa các đối tượng (object). Tuy nhiên, lợi thế của messaging là bằng cách thể hiện thực tế của truyền thông trong một hình thức hữu hình của message như một thực thể first-class, các lập trình viên có nhiều cơ hội để mở rộng sang các miền chức năng khác hoặc là do cảm thấy không thoải mái với những ràng buộc của một “lối tư duy gọi thủ tục (procedure call mindset)” hay chỉ vì không thể thực hiện được theo cách cũ.